Copyright 2008-2012 @NVBIBLE.NET. All Rights Reserved.
Giải Nghĩa Kinh Thánh

Sách I Cô-rinh-tô

Giáo Sư Mực Sư Trần Đào
Vietnamese Baptist Theological School

Giới Thiệu

Thư Cô-rinh-tô thứ nhất là một trong những thư quan trọng Phao-lô gởi cho hội thánh Cô-rinh-tô với tư  cách là một Sứ Đồ của Chúa Cứu Thế và là người thành lập hội thánh này.

Vì là một bức thư có tính cách cá nhân nên người ta có thể tìm thấy tâm tình và đức tính cá nhân của Phao-lô được bày tỏ trong thư. Ngoài ra để sửa sai và điều chỉnh một số quan niệm, thái độ, nếp sống đạo đức và áp dụng sai lầm Phao-lô cũng giải thích rõ bản chất của hội thánh Chúa, cách thờ phượng phải lẽ, các sử dụng các ân tứ và tín lý về sự phục sinh của Chúa Giê-su và của tín hữu.

Một số những vấn đề Phao-lô giải quyết trong thư Cô-rinh-tô cũng là những vấn đề chúng ta phải đối diện trong hội thánh lẫn ngoài xã hội hiện nay. Vấn đề chia rẽ, phân chia giai cấp, vai trò của phụ nữ trong hội thánh, vấn đề tình dục, vấn đề hôn nhân, gia đình, vấn đề ăn đồ cúng thần tượng, vai trò, mục đích và cách sử dụng các ân tứ , vấn đề phục sinh của tín hữu và Chúa tái lâm…

Nghiên cứu thư Cô-rinh-tô chúng ta cũng có những nền tảng tín lý vững chắc trên phương diện biện giáo trước những thế giới quan thế tục, vô thần, tự nhiên (chống lại niềm tin siêu nhiên) và của một vài tôn giáo Á Châu.  

Tác giả
Trong phần đầu của thơ, Phao-lô nhận chính ông đích thân viết thơ cho hội thánh Cô-rinh-tô vì thế từ trước đến nay rất  ít học giả nghi ngờ về tác giả thơ Cô-rinh-tô.

Niên Đại
Ngoài những dữ kiện của cuộc hành trình truyền giáo của Phao-lô trong sách Công Vụ người ta tìm thấy một di tích khảo cổ ghi lại chức vụ của Ga-li-ô làm thống đốc (proconsul) Achaiavào năm thứ hai mươi sáu dưới triều hoàng đế Claudius-Thời gian này được biết từ một tài liệu cổ khác là khoảng thời gian bảy tháng đầu của năm 52  SCN (Sau Công Nguyên). Phao-lô hoạt động tại Cô-rinth một thời gian rồi đi qua Sy-ria (Công Vụ 18). Phao-lô ở tại Ê-phê-sô khoảng hai năm rưỡi và viết thơ cho hội thánh Cô-rinth vào khoảng cuối thời gian ở Ê-phê-sô, tức khoảng năm 55 SCN. 

Thành phố và dân cư Cô-rinh-tô
Thành Cô-rinh-tô nằm ở eo biển nối liền hải đảo lớn Achaia của Hy Lạp ở phía bắc và hải cảng Cô-rinh-tô cũng là hải cảng chính trên đưởng thông thương Đông (Tiểu Á) Tây. Nhờ thế thành Cô-rinh-tô nổi tiếng là một thành phồn thịnh, giàu sang và xa xí.

Thành Cô-rinh-tô có hội thể thao Isthmian chỉ kém hội thế vận Olympics trong thời cổ. Nhờ thương mại phồn thịnh, thành Cô-rinh-tô cũng là thành thu hút đông đảo dân chúng từ các nơi đổ về sinh sống.

Trên một đồi cao của thành có đền nữ thần Aphrodite, nữ thần tình yêu với hàng ngàn nữ tư tế và cũng là những cô điếm hành nghề mãi dâm vào ban đêm. Tên Cô-rinh-tô trong thời cổ cũng đồng nghĩa với thành phố trụy lạc hay người trụy lạc. 

Thành phố Cô-rinh-tô phát triển và phồn thịnh vào thời hoàng kim của thành A-then (Thế kỷ thứ 5 TCN). Nhưng vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2 TCN, thành Cô-rinh-tô lãnh đạo Achaean League chống lại La Mã và bị La Mã hủy diệt năm 146 TCN. Thành bị bỏ hoang cho đến năm 44 TCN mới được xây dựng lại như là một thuộc địa của La Mã. Thành phố được tái lập vì địa thế thuận tiện cho việc thương mãi lẫn quân sự.

Dân cư thành Cô-rinh đa số là những người tự do từ La Mã di cư đến đây lập nghiệp nên họ cũng đem luật lệ , văn hóa và tôn giáo La Mã đến thành phố này. La Tinh là ngôn ngữ chính của Cô-rinh, nhưng xã hội La Mã đã bị Hy Lạp hóa rất nhiều và thành Cô-rinh vốn là thành phố Hy Lạp từ xưa vì thế họ vẫn giữ nhiều truyền thống, tôn giáo, triết lý, nghệ thuật Hy Lạp. Ngoài ra những người từ Á Châu và Ai-cập cũng đến làm ăn, buôn bán và đem theo tôn giáo, văn hóa của họ. Dân cư Cô-rinh cũng bao gồm một số đông thợ thuyền và nô lệ.

Cũng như hầu hết những trung tâm đô hội phồn thịnh thời ấy, thành Cô-rinh nổi tiếng về những hoạt động ăn chơi, giải trí. Các đền đài với những cô tư tế điếm đi đôi với bệnh tật về tình dục  lan tràn.

Về tôn giáo, vì dân cư thuộc nhiều sắc dân nên cũng có nhiều đền đài thờ tự các thần khác nhau. Đền thờ nữ thần Aphrodite, thần tình yêu và thẩm mỹ trên đỉnh núi Acrocorinth với nhiều nữ tư tế làm thành Cô-rinh nổi tiếng về đời sống sa đọa thời cổ.

Đền thờ thần Asclepius, thần chữa bệnh, nằm về phía bắc của thành.
Hội thánh Cô-rinh-tô có lẽ cũng phản ánh dân số Cô-rinh, nghĩa là bao gồm cả những người La Mã, Hy Lạp, Do Thái, tự do và nô lệ.  Các tên của những người được nhắc đến trong thư tín này gồm có tên Do Thái, La Tinh (La Mã) và Hy Lạp. Những hoạt động tôn gíao phản ảnh ngoại giáo như lễ hội tại các đền miễu, không phải Do Thái giáo; vì thế có thể nói chung đa số tín hữu tại hội thánh Cô-rinh-tô không phải là người Do Thái hay gốc Do Thái.

Về phương diện kinh tế đa số tín hữu thuộc về giai cấp thấp trong xã hội; chỉ có một vài gia đình thuộc giai cấp giàu có, thượng lưu.
Thư Cô-rinh-tô cho thấy tiến trình học hỏi và biến đổi từ thế giới quan Hy Lạp thành thế giới quan cũng như hành vi Cơ Đốc.    

Cấu Trúc của thư Cô-rinh-tô Thứ Nhất
Thư Cô-rinh-tô có cấu trúc tương tự như những lá thư của một người vào thời cổ đi xa gởi cho người thân của mình ở nhà.

  1. Lời chào
  2. Lời cầu nguyện
  3. Lời cảm ơn
  4. Nội dung lá thư
  5. Lời chào kết thúc và thăm.

Nội dung thư Cô-rinh-tô 1  có thể chia như sau:

1:1-9                Lời chào và cảm tạ      
1:10-4:21         Sự chia rẽ nội bộ và ý niệm sai lầm về bản chất của người lãnh đạo hội thánh. 
Ch. 5 và 6        Nếp sống đạo đức của tín hữu.
Ch. 7                Vấn đề gia đình và hôn nhân.
Vấn đề ăn đồ cúng các thần tượng. 
11:2-34            Những vấn đề trong sự thờ phượng.
Ch. 12,14         Ân tứ Thánh Linh
Ch. 13              Cách sống tốt đẹp nhất của tín hữu
Ch. 15              Sự sống lại của tín hữu
16:13-18          Lời khuyên và chào.

Thần Học
Thư Cô-rinh-tô chủ yếu là những lời giải đáp và biện giải cho những nan đề hay những vấn nạn tín hữu Cô-rinh-tô nêu lên hay hỏi Phao-lô. Lời giải đáp và biện giải của Phao-lô đều dựa trên nền tảng Phúc Âm và tín lý căn bản mà ông đã nhận được do mạc khải hay do truyền thống của hội thánh truyền lại. Trong thời điểm này (khoảng giữa thế kỷ thứ nhất) truyền thống của hội thánh chỉ về những hành động và lời dạy dỗ của chính Chúa Giê-su.

Trong khi trả lời hay biện giải những vấn đề của hội thánh Cô-rinh-tô Phao-lô đã tóm lược nội dung Phúc Âm và ông xác nhận rằng người nào chấp nhận Phúc Âm đó sẽ được cứu rỗi. Phúc Âm mà Phao-lô truyền bá được tín hữu Cô-rinh-tô chấp nhận như là đồng một Phúc Âm của các Sứ Đồ khác và có đầy đủ thẩm quyền của Đức Chúa Trời.

Những điều Phao-lô dạy dỗ mang đầy đủ thẩm quyền của Đức Chúa Trời vì:

  1. “Những điều tôi viết cho anh chị em là mạng lệnh của Chúa”. (1Cor14:37)
  2. Phao-lô dạy và truyền những điều “tôi nhận từ nơi Chúa”
  3. Và từ truyền thống của các hội thánh đầu tiên (1Cor 11:16).
  4. Ngoài ra Phao-lô là một Sứ Đồ do chính Chúa Giê-su hiện ra và kêu gọi ông để truyền bá Phúc Âm cho người ngoại quốc vì thế những điều ông truyền bá và dạy dỗ cũng có thẩm quyền như các Sứ Đồ khác.

Thư Cô-rinh-tô thứ nhất đề cập đến những chủ đề thần học sau:

Các Thánh Đồ của Chúa Cứu Thế
Theo bối cảnh của thành Cô-rinh-tô và những tên Phao-lô nói đến cho thấy tín hữu Cô-rinh-tô gồm có nhiều thành phần mà phần lớn là những người thuộc thành phần thấp kém và nghèo trong xã hội thời bấy giờ. Về chủng tộc, đa số tín hữu của hội thánh này có lẽ là người La Mã và  các chủng tộc quanh vùng Trung Đông và Âu Châu dưới sự kiểm soát của Đế Quốc La Mã. Thư Cô-rinh-tô không bàn nhiều về những vấn đề liên quan đến Do Thái giáo vì thế có lẽ số tín hữu gốc Do Thái không phải là đa số tại đây. Dù là người thuộc chủng tộc nào đi nữa; dù là trong qúa khứ họ đã thờ bất cứ thần nào khác; dù trong qúa khứ họ có một đơì sống đạo đức trụy lạc, sa đọa như đa số những người dân Cô-rinh-tô nhưng khi những người này “cầu khẩn danh Chúa Cứu Thế Giê-su”, nghĩa là tin nhận Đức Giê-su làm Đấng Cứu Thế và Chúa Tể của họ, những người này được thánh hóa trong Chúa Cứu Thế Giê-su và được gọi là “các thánh.”

Theo Sứ Đồ Phao-lô, ai là người được gọi là “thánh”? Những người được Phao-lô gọi là “các thánh” là những người đã được “thánh hóa trong Chúa Cứu Thế Giê-su.” Đây là những người “ở khắp mọi nơi cầu khẩn danh Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa của họ và của chúng ta.”

Từ “thánh hóa” có ý nghĩa chính là biệt riêng ra để thánh hiến cho việc phụng vụ Đức Chúa Trời . Như vậy về phương diện của Đức Chúa Trời, các thánh là những người được Chúa chọn đặc biệt để thi hành các dịch vụ cho Ngài. Những người này được Chúa chọn riêng ra, tách biệt ra khỏi những người phàm tục và những công việc phàm tục. Đây là một đặc ân cao quí và vinh hạnh cho một người. Sứ Đồ Phê-rơ đã xác định địa vị cao quí đó và gọi những người được Chúa chọn là “Nhưng anh chị em là dân tộc được lựa chọn, vị tế lễ của hoàng gia.” (1Phê-rơ 2:9)
Trên phương diện đạo đức, “Thánh hóa là một tiến trình hoạt động của Đức Chúa Trời và con người, nhờ đó con người được giải thoát tự do hơn đối với quyền năng của tội lỗi và ngày càng trở nên giống Chúa Cứu Thế hơn trong đời sống hàng ngày.”  Như thế thánh cũng có nghĩa là “tinh khiết, trong sạch, thánh khiết” về phương diện đạo đức. Nhưng một điều khác biệt lớn lao giữa “các thánh” trong Chúa Cứu Thế và những thánh của thế gian và của các tôn giáo khác ở điểm:

-Tín hữu của Chúa Giê-su được “thánh hóa” và gọi là “thánh” vì đức tin của họ trong Chúa Cứu Thế Giê-su, không phải vì công đức tu hành của riêng họ.

Nói như thế không có nghĩa là con người hoàn toàn thụ động, không cần làm gì cả. Thật ra “tin cậy” là một hành động bao gồm cả lý trí, ý chí và tình cảm. Một người được thánh hóa và được gọi là thánh vì người đó đã tin cậy Chúa Cứu Thế và được Chúa Cứu Thế giải thoát tự do khỏi mọi tội lỗi cũng như quyền năng của tội lỗi; rồi từ biến cố khởi điểm của sự thánh hóa do quyền năng của Đức Chúa Trời đó; tiến trình thánh hóa tuần tự tiến triển nhờ học Lời Chúa, cầu nguyện, thờ phượng, tương giao với cộng đồng dân Chúa, phục vụ Chúa và tha nhân. Tiến trình thánh hóa xảy ra nhanh hay chậm, nhiều hay ít tùy mức độ tận hiến, vâng phục của con người khi  hợp tác với Đức Chúa Trời.

Một điểm khác chúng ta cũng cần chú ý, sự thánh hóa và tiến trình thánh hóa không thể xảy ra ngoài Chúa Cứu Thế, vì thế Phao-lô xác định với những tín hữu Cô-rinh-tô : “tức là những người đã được thánh hóa trong Chúa Cứu Thế Giê-su.” (c.2)   Loài người tội lỗi tự mình không thể thánh hóa chính mình; loài người cũng không thể nhờ ai hay một đấng nào khác thánh hóa cho mình; chỉ có Chúa Cứu Thế, Con Một Đức Chúa Trời là Đấng có đủ năng lực và đã tình nguyện hy sinh chết thế cho nhân loại mới có quyền tha thứ tội lỗi và có quyền thay đổi bản chất tội lỗi của con người. Loài người không thể tự mình thánh hóa mình nhưng có thể đáp ứng lời kêu gọi của Chúa bằng đức tin, hợp tác với Chúa trong tiến trình thánh hóa.  

Ngoài ra “các thánh” là những người đã tin cậy và nhận Đấng Cứu Thế làm Chủ Tể đời sống mình. Phao-lô đã nhắc đến điều này đến hai lần trong một câu (c.2). Từ CHÚA là một danh hiệu hoàng đế La Mã dùng để chỉ quyền chủ tể và thần tính của mình. Những người dân trong đế quốc La Mã phải tuân phục vua của họ như là vị chúa tể, đấng sở hữu mọi thần dân trong đế quốc và có quyền sinh sát trên họ. Khi một người vào thời đó tin cậy và tuyên xưng Đức Giê-su làm CHÚA hay chủ tể của mình, người này đương nhiên công nhận rằng Chúa Giê-su là CHÚA của họ thay cho hoàng đế La Mã. Trong thời bấy giờ nhiều tín hữu đã phải trả gía bằng sinh mạng của họ vì họ không chịu từ khước hay phủ nhận Đức Giê-su là CHÚA của mình.

Nạn Chia Rẽ Trong Hội Thánh.

Tình trạng chia rẽ trong hội thánh Cô-rinh-tô.
Phao-lô được biết rằng các tín hữu Cô-rinh-tô đã chia thành nhiều nhóm khác nhau; nhóm theo ông, nhóm khác theo A-bô-lô, theo Phê-rơ và một số người muốn mình thiêng liêng hơn cả nên cho rằng mình theo Chúa Cứu Thế. Chúng ta không biết rõ nội dung những vấn đề đưa đến tình trạng chia rẽ giữa tín hữu Cô-rinh-tô, có lẽ là những vấn đề họ đã nêu lên hoặc đã hỏi và tranh luận với Phao-lô. Người ta chỉ biết những nhân vật mà các nhóm người này thừa nhận là thủ lãnh của họ.

A-bô-lô là một người Do Thái từ A-lec-xăng-ria, Ai-cập đến Ê-phê-sô. A-bô-lô là người thông thạo kinh Cựu Ước, học thức, khôn ngoan và có tài hùng biện. A-bô-lô không phải là một sứ đồ và là người được Bê-rít-sin và A-qui-la “giải thích Đạo Chúa cho ông cách chính xác hơn nữa.” (Công Vụ 18:26).

Phê-rơ là Sứ Đồ của Chúa Giê-su. Bằng chứng về việc Phê-rơ đến và phục vụ Chúa tại Cô-rinh-tô thật ra rất  mơ hồ. Tuy nhiên những người Cô-rinh-tô có thể chỉ theo sự dạy dỗ của Phê-rơ và không nhất thiết  chính Phê-rơ phải có mặt ở Cô-rinh-tô.

Phao-lô là người sáng lập hội thánh Cô-rinh-tô. Ông không phải là mười hai Sứ Đồ nguyên thủy do Chúa Giê-su chọn khi Ngài còn tại thế, nhưng ông được Chúa Giê-su phục sinh hiện ra và gặp ông cũng như chọn ông làm Sứ Đồ cho người ngoại quốc.

Phao-lô cũng là người thông thạo kinh Cựu Ước và trí thức nhưng có lẽ không có tài hùng biện và khôn ngoan theo thế tục (2 Cor 10:10).

Nguyên nhân của sự chia rẽ
Một trong những vấn đề Phao-lô nêu lên để biện giải  cho sự hiệp nhất trong Chúa Cứu Thế là phép Báp-tem. Tất cả tín hữu đều nhận lễ Báp-tem nhân danh Chúa Giê-su; không phải nhân danh người thi hành lễ Báp-tem. Có lẽ một số người tại Cô-rinh-tô trung thành với người đã đem mình về với Chúa và làm lễ Báp-tem cho mình. Nhưng Phao-lô cho thấy chính bản thân  ông đã không làm phép Báp-tem cho nhiều người và tất cả những người truyền giảng Phúc Âm và làm phép Báp-tem cho tín hữu đều là tôi tớ của Chúa; mỗi người được kêu gọi để làm một công tác đặc biệt cho Chúa và không ai quan trọng hay cao cả hơn ai.

Như thế vấn đề theo một người này để chống lại người kia trong hội thánh Chúa là sai lầm vì đây chỉ là những hình thức tự cao tinh tế để nâng mình lên cao hơn, giỏi hơn hay tốt hơn những người khác nhờ uy tín, tài năng hay danh tiếng của người lãnh đạo mà mình theo.

Tín hữu của Chúa tại Cô-rinh-tô đã chú trọng đến người lãnh đạo qúa đáng. Tất cả những người giữ vai trò lãnh đạo, dạy dỗ trong hội thánh đều là những tôi tớ của Đức Chúa Trời. Tín hữu nên kính trọng, vâng lời Chúa và vui mừng hợp tác với tôi tớ Chúa xây dựng hội thánh; không nên tôn sùng cá nhân. Thật ra cả Phao-lô lẫn A-bô-lô đều không chú ý và không hề có ý kéo bè đảng trong hội thánh. Có lẽ đó là lý do A-bô-lô không muốn trở lại thăm hội thánh Cô-rinh-tô dù chính Phao-lô yêu cầu. Tôn sùng cá nhân con người là bẫy sập, là nguyên nhân sâu xa gây nên chia rẽ, bè đảng trong hội thánh. Tín hữu nên thờ phượng và tôn vinh Chúa trên hết, kính trọng và hợp tác với tôi tớ Chúa.

Vào thời đó kiến thức về các nền triết lý đương thời (sự khôn ngoan) và tài hùng biện là những huy chương vinh dự trong xã hội. Phao-lô dường như không có những khả năng và kiến thức này bằng A-bô-lô vì thế có nhiều người đặt nghi vấn về thẩm quyền và ngay cả địa vị Sứ Đồ của ông.  

Điều lầm lẫn của một số tín hữu Cô-rinh-tô là họ đã dựa vào tài hùng biện và sự khôn ngoan hay triết lý thế tục để thẩm định tôi tớ và công việc của Đức Chúa Trời. Phao-lô khẳng định rằng ông truyền giảng Phúc Âm về sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế và ông dựa vào quyền năng của Đức Thánh Linh chứ không phải tài hùng biện và sự khôn ngoan thế tục. Tín hữu và hội thánh Cô-rinh-tô là kết qủa do quyền năng Phúc Âm và qua mục vụ của Phao-lô đem lại. Đây là bằng chứng về quyền năng của Đức Thánh Linh và thẩm quyền của  Đức Chúa Trời được ủy nhiệm cho Phao-lô.

Điều lầm lẫn kế tiếp là người Cô-rinh-tô đã chuộng và ngưỡng mộ những ân tứ Thánh Linh có tính cách phô trương nhiều  nhất vì thế tạo ra sự ganh tị, tranh đua, ghen ghét và chia rẽ. Phúc Âm về sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su không còn là trọng tâm của Đạo Chúa mà là sự phô trương của những người có nhiều ân tứ nổi nhất. Người ta tìm kiếm những ân tứ nhiều quyền năng và phô trương để khoe khoang và tự hào rằng mình đã đạt đến trình độ thuộc linh cao. Nhưng phía sau những ân tứ nổi là sự kiêu ngạo và tệ hại hơn nữa là lòng kiêu ngạo trở thành một điều tự nhiên và bình thường. Những địa vị lãnh đạo và cao trong hội thánh thuộc về những người có những ân tứ nổi bật dù chính những thái độ và hành vi trên chứng tỏ rằng họ lầm lẫn, chưa trưởng thành thuộc linh và kiêu ngạo.  

Phao-lô nói thẳng với người Cô-rinh-tô rằng họ vẫn còn ấu trĩ, trẻ sơ sinh, những người còn phải uống sữa thuộc linh, chưa ăn đồ ăn của người lớn được. Trước gỉa thư  Hê-bơ-rơ giải thích thêm về tình trạng ấu trĩ : “Ai phải bú sữa thì vẫn còn thơ ấu, chưa biết Đạo công chính. Nhưng thức ăn đặc dành cho người trưởng thành là người nhờ thực hành mà luyện tập được khả năng phân biệt thiện ác.” (Hêb 5:13-14) Tín hữu Cô-rinh-tô chưa phân biệt được đâu là khôn ngoan thuộc linh, tức là Phúc Âm, sự khôn ngoan thật của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan thế tục. Họ chưa thấy được sự vinh dự của địa vị làm con dân và tôi tớ Đức Chúa Trời nên tìm kiếm những vinh dự của đời.

Hậu qủa của nạn chia rẽ.
Hậu qủa hiển nhiên nhất là hội thánh thiếu sự hoà thuận, hợp nhất cần thiết để tăng trưởng và phát triển. Tín hữu trong các nhóm thường cãi nhau, phê bình, chỉ trích để chứng tỏ mình là đúng, mình là giỏi hơn người khác. Họ đã trở nên kiêu ngạo, lên mình cãi nhau cả với sứ đồ Phao-lô.

Yêu chuộng tri thức và khôn ngoan thế tục gây chia rẽ trong hội thánh và như thế phá hoại hội thánh (đền thờ) Chúa. Vì chia rẽ, không phục nhau nên khi có sự xích mích, các tín hữu đã đem nhau ra tòa án của người ngoại đạo để phân xử.

Giải pháp Phao-lô đưa ra để giải quyết nạn chia rẽ.
Ngay trong lời chào đầu thư Phao-lô đã xác nhận rõ rằng hội thánh Cô-rinh-tô là hội thánh của Đức Chúa Trời, không phải hội thánh của một người nào. Tín hữu là những người tin cậy Chúa Cứu Thế và nhân danh Chúa nhận thánh lễ Báp-tem; như thế mọi tín hữu nên hiệp nhất trong Chúa Cứu Thế, không nên tôn sùng một cá nhân nào vì tất cả những người lãnh đạo hội thánh cũng chỉ là những người tôi tớ của Đức Chúa Trời. Các tôi tớ của Chúa đều ngang nhau, mỗi người được kêu gọi vào một công việc khác nhau nhưng cùng chung một mục đích và mỗi người đều sẽ được Chúa thưởng tùy theo công lao của họ. “Người trồng, kẻ tưới đều như nhau, mỗi người sẽ nhận phần thưởng tùy theo công lao của mình.”

Tín hữu Cô-rinh-tô ưa chuộng và tìm kiếm sự khôn ngoan và vinh dự thế tục vì họ “chưa biết Đạo”, chưa thấy được sự khôn ngoan siêu việt của Đức Chúa Trời trong cái chết nhục nhả, khổ hình của Con Ngài, Chúa Cứu Thế để đền tội cho họ và nhân loại. Những tín hữu Cô-rinh-tô chưa trưởng thành đủ để can đảm sống khiêm nhu như Chúa Cứu Thế; họ chưa có đủ đức tin và can đảm để chuộng lối sống đẹp lòng Chúa thay vì chạy theo vinh dự và kiêu hảnh của đời.

Tín hữu Cô-rinh-tô hiểu lầm mục đích của các ân tứ Thánh Linh. Phao-lô nhắc nhở họ rằng các ân tứ được Chúa ban cho mỗi người là vì “lợi ích chung”, không phải vì  lợi ích cá nhân và nhất là lại càng không phải cho sự vinh hiển cá nhân. Vì tìm kiếm những ân tứ quyền năng và những người có các ân tứ đó trở nên kiêu ngạo nên hậu qủa là ghen ghét, ganh tị,  cãi vả và chia rẽ. Mỗi tín hữu đều được Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ khác nhau để thi hành những mục vụ khác nhau nhưng tất cả đều như nhau và cho cùng một mục đích. Vì thế tín hữu cần hiệp nhất và hợp tác thay vì chia rẽ.

Nói chung tín hữu Cô-rinh-tô cần trưởng thành về tâm trí, tức là có “tâm trí của Chúa Cứu Thế” để hiểu rõ và phân biệt đâu là khôn ngoan thuộc linh và đâu là khôn ngoan thế tục.

Ngoài ra Phao-lô cũng giới thiệu tín hữu Cô-rinh-tô một con đuờng tốt đẹp hơn, một lối sống tuyệt hảo, lối sống trong tình yêu thương.

Phản ứng của tín hữu Cô-rinh-tô.
Qua thư Cô-rinh-tô thứ hai chúng ta biết được một vài phản ứng của tín hữu Cô-rinh-tô về những vấn đề họ đã hỏi hay tranh luận với Phao-lô.
Chúng ta không biết rõ tín hữu Cô-rinh-tô đã hoàn toàn chấp nhận những điều Phao-lô dạy dỗ hay không nhưng ít ra thì họ đã:
Mong Phao-lô trở lại thăm họ, tức là họ đã giải hòa với Phao-lô. Tín hhữu Cô-rinh-tô cũng đã ăn năn khóc lóc và sốt sắng đối với Phao-lô. Như thế họ đã nhận lỗi và ăn năn, hối cãi về những điều sai lầm của họ.

Qua lịch sử giáo hội chúng ta biết chắc chắn rằng tín hữu Cô-rinh-tô không những đã sống vững vàng, phát triển và hoàn thành sứ mệnh cao cả mà Chúa đã giao phó cho hội thánh. Chỉ trong một thời gian ngắn hội thánh Cô-rinh-tô cùng với các hội thánh khác trong vùng đã đem Phúc Âm đến cho toàn thể đất nước và dân tộc Hy Lạp.

Cho đến ngày nay, sau gần hai ngàn năm, đại đa số người Hy Lạp đã theo Đạo Chúa (Chính Thống giáo).  

Bài học áp dụng cho hội thánh Chúa ngày nay.

Những nguyên nhân thông thường gây nạn chia rẽ trong hội thánh Chúa ngày nay:

  1. Thiếu hiểu biết về bản chất và mục đích của hội thánh.
  2. Độc tài, kiêu ngạo, ích kỷ cá nhân.
  3. Tôn sùng cá nhân lãnh đạo.
  4. Thiếu hiểu biết và cách sử dụng các ân tứ Thánh Linh.
  5. Tà giáo
  6. Ưa chuộng sự khôn ngoan và vinh dự thế tục.
  7. Thiếu một khải tượng và mục đích chung.
  8. Không có tinh thần hợp tác, đồng đội giữa mục sư và ban chấp sự (hành).

Những giải pháp để giải quyết.

  1. Tổ chức để ban chấp hành và những người lãnh đạo của hội thánh học, hiểu rõ bản chất và mục đích của hội thánh.
    Hội thánh là thân thể của Chúa Cứu Thế vì thế cần sự hiệp nhất và phối hợp trong tình yêu thương.
  2. Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh ngự trị trong đó vì thế tín hữu của hội thánh phải có đơì sống thánh khiết, xứng đáng chỗ ngự của Đấng thánh.
  3. Học Kinh Thánh về quyền chủ tể của Chúa trên hội thánh. Tất cả những người phục vụ Chúa đều là tôi tớ của Chúa. Con dân Chúa nên chú trọng, tôn vinh Chúa thay vì cá nhân hay lãnh đạo phàm nhân.
  4. Tổ chức khóa huấn luyện, học về các ân tứ Thánh Linh. Mục đích của ân tứ là vì lợi ích chung, không phải vinh dự cá nhân.
  5. Nghiên cứu , học về tà giáo và Kinh Thánh giải đáp.
  6. Tổ chức những buổi học Kinh Thánh hay giảng dạy về sự khôn ngoan thuộc linh. Vinh dự của con dân Chúa và hy vọng tưởng thưởng trong Nước Chúa.
  7. Học Kinh Thánh và cầu nguyện xin khải tượng chung cho hội thánh. Hoàn thành đại Mạng Lệnh của Chúa Giê-su.

Sự Khôn Ngoan
1Cor 1:30  Chúa Cứu Thế là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Phao-lô đặc biệt nhấn mạnh “Chúa Cứu Thế Giê-su là Đấng đã bị đóng đinh trên thập tự gía.”
Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời là sự khôn ngoan huyền bí và do Đức Thánh Linh dạy dỗ. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời là sự khôn ngoan thuộc linh. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời là khôn ngoan thật.

Sự khôn ngoan thế tục.
Người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan. Ban đầu sự khôn ngoan có nghĩa tốt đẹp nhưng dần dần từ “khôn ngoan” chỉ về tâm trí xảo quyệt, lời nói hoa mỹ, hùng biện nhưng điêu ngoa, đổi trắng ra đen. Mổ xẻ mọi vấn đề như chẻ sợi tóc nhưng không đi đến giải quyết. Một số người phê bình văn hóa Hy Lạp cho rằng những người “Hy Lạp khôn ngoan” thời đó giống như những con công xoè cánh khoe khoang tiếng tăm và số môn đệ của họ.

Tài hùng biện cũng là một ngành được ngưỡng mộ vào thời đó. Người ta huấn luyện giọng nói thanh tao như âm nhạc. Họ không chú ý đến nội dung nhưng đến cách nói sao cho hay ho. Tư tưởng của họ có thể là thuốc độc miễn là họ gói gém chúng trong những lời vàng ngọc. Nói chung người ta chuộng sáo ngữ, êm tai hơn là chân lý.

Một trong những triết thuyết phổ thông trong thế kỷ đầu Công Nguyên là Tri Thức Luận (Gnosticism). “Đây là một phong trào tôn giáo và triết học chủ trương nhị nguyên trong những thế kỷ đầu của hội thánh Chúa, đặc biệt quan trọng là vào đầu thế kỷ thứ hai dưới sự lãnh đạo của Valentinus và Basilides. Những người này dạy rằng vật chất là ác, là hậu qủa của sự xáo trộn vũ trụ, trong đó một ác thần (archon) nổi loạn chống lại toàn thể thế giới thiêng liêng. Trong tiến trình đó những tia sáng thiêng liêng được thế giới thiêng liêng phóng ra và nhập vào những thân thể vật chất của con người. Đức Giê-su là một thần linh cao cấp (Logos) được sai đến để phục hồi những linh hồn có tia sáng thiêng liêng về với thế giới thiêng liêng bằng cách đem lại cho họ tri thức bí truyền.

Tri thức luận ảnh hưởng và đe dọa hội thánh chính thống từ bên trong lẫn bên ngoài. Những người theo tri thức luận cạnh tranh với Cơ Đốc giáo và những tín hữu theo tri thức luận đe dọa đến giáo lý chính thống vì nhấn mạnh đến sự cứu rỗi bởi tri thức thay vì bởi đức tin. Những nhà thần học như Clement of Alexandria và môn đệ của ông là Origen chủ trương có hai con đường đưa đến cứu rỗi, con đường đức tin dành cho quảng đại quần chúng và con đường tri thức bí truyền dành cho các triết gia.”       

Kết qủa và hậu qủa của khôn ngoan thế tục.
Bằng chứng của thành công đối với những người khôn ngoan và hùng biện thời đó là có nhiều môn đệ và được xã hội kính trọng và ngưỡng mộ. Vì quá chú trọng đến những hình thức văn hoa, sáo ngữ và tài hùng biện thuyết phục người nghe; người ta đã bỏ qua chân lý và ham chuộng những thuyết huyền hoặc, trống rỗng. Hậu qủa hiển nhiên nhất là cho đến bấy giờ người ta vẫn còn mù loà, không thể  tìm thấy Đức Chúa Trời và vẫn còn ở dưới sự đoán phạt của Chúa.

Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Chúa Cứu Thế Giê-su là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Sự khổ hình và chết của Chúa Giê-su có vẻ là một điều sỉ nhục, ngu dại trước mắt thế gian, nhưng thật ra thập tự gía của Chúa Cứu Thế là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.

Đối với thế gian, thập tự gía là một điều yếu đuối, không khôn ngoan và không vinh dự. Con ngườicần mắt thuộc linh để thấy sức mạnh của tình yêu và hy sinh nơi thập tự gía. Chỉ có người thuộc linh mới có thể thấy sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời khi Ngài dùng thập tự gía để cứu rỗi nhân loại. Người thuộc linh không cần tìm kiếm vinh dự thế tục vì họ đã nhận được vinh dự từ Đức Chúa Trời.

Kết qủa và hậu qủa của khôn ngoan thuộc linh.
Người có sự khôn ngoan thuộc linh, tức là người chấp nhận thập tự gía của Chúa Cứu Thế nên sẽ được cứu rỗi. Người khôn ngoan thuộc linh sẽ hiệp nhất trong Chúa, không chia rẽ. Người khôn ngoan thuộc linh cũng là người trưởng thành, không phải là trẻ sơ sinh. Ngưòi khôn ngan thuộc linh sẽ không kiêu ngạo, ganh tị, ghen ghét. Người khôn ngoan thuộc linh sẽ không tìm kiếm vinh dự thế tục. Người khôn ngoan thuộc linh sẵn sàng nhường nhịn anh chị em mình, không cần đem ra toà án thế gian để kiện tụng.

So sánh hai sự khôn ngoan.
Chúa Cứu Thế là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Thập tự gía là sự khôn ngoan của Đức chúa Trời để cứu rỗi nhân loại.
Sự khôn ngoan thế tục đến từ người phàm, thiếu quyền năng thiêng liêng và không thể biết Đức Chúa Trời. Chúa Cứu Thế đến từ Đức Chúa Trời; Ngài có đủ quyền năng thiêng liêng để cứu rỗi loài người và có thể đem người đến với Đức Chúa Trời.

Sự khôn ngoan thế tục được thế gian trọng vọng; sinh ra kiêu ngạo, chia rẽ, giai cấp. Sự khôn ngoan thuộc linh bị thế gian khinh khi; sống khiêm nhường, giúp conngười muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Sự khôn ngoan thế tục trong xãhội hiện đại.
Một số những thế giới quan đã trở nên rất phổ thông trong xã hội hiện đại; con người sẽ bị coi là lạc hậu, chậm tiến hay thủ cựu nếu không chấp nhận những quan niệm này.

Thuyết nhân bản: “Một loạt những định kiến định cho con người một vị trí đặc biệt trong phạm trù sự vật…một mặt quan niệm nhân bản đối kháng với chủ trương nhấn mạnh đến vấn đề siêu nhiên, siêu việt, coi con người tùy thuộc rất nhiều vào trât tự thiêng liêng; một mặt khác quan niệm nhân bản  chống lại chủ trương coi con người như là một phần trong thế giới tự nhiên, ngang hàng với các sinh vật sống khác. ” Từ thế kỷ thứ mười tám đến nay, những triết gia nhân bản “tin vào sự toàn hảo của bản chất con người, ý thức đạo đức, ý thức trách nhiệm và sự khả dĩ có thể tiến bộ…họ tin rằng con người có thể sống tự tin mà không cần sự chắc chắn của siêu hình và tôn giáo và rằng mọi quan điểm đều có thể xét lại và sửa chữa.”   Ngoài ra người ta cũng thấy có nhiều người theo thuyết nhân bản vô thần; họ hoàn toàn bài bác sự hiện hữu và quyền năng của một Đức Chúa Trời.

Một số người khác chủ trương nhân bản phi Thiên Chúa; những người này chủ trương nhân bản, chấp nhận phạm trù thiêng liêng nhưng không chấp nhận sự hiện hữu của một Thượng Đế toàn năng (Những người Phật giáo Tiểu Thừa). Một số lớn những người theo nhân bản cũng có thái độ “bất tri luận”; người ta không thể biết rằng có Đức Chúa Trời hay không, nên không nghĩ đến, không bàn đến.
Quan niệm thế tục: “Cách sống và tư duy mà không cần dựa vào Thượng Đế hay tôn giáo…Nói chung quan niện thế tục bao gồm việc xác nhận thế giới hiện tại đang hiện hữu và từ khước thế giới siêu việt hay thế giới khác.”

Lợi ích cũng như nguy hại trong việc sử dụng sự khôn ngoan thế tục trong hội thánh Chúa hiện đại.
Kinh Thánh cho thấy rõ địa vị cao quí của con người trong vũ trụ vì thế tín hữu là những người chủ trương nhân bản. Tuy nhiên chúng ta tin rằng con người không phải tự nhiên mà có nhưng do Đức Chúa Trời toàn năng sáng tạo nên. Tín hữu của Chúa là những người nhân bản hữu Thần. Những định luật khoa học đều là những chân lý trong lãnh vực thiên nhiên. Nhiều nhà khoa học vĩ đại của nhân loại cũng là những tín hữu nhiệt thành của Chúa Cứu Thế như  Sir Isaac Newton, Pascal v.v. Chúng ta tin rằng thế giới bao gồm cả phạm trù thiên nhiên lẫn siêu nhiên.

Đời sống sẽ quân bình, tốt đẹp hơn khi một người không có thái độ cực đoan giới hạn đời sống trong quan niệm khoa học thực nghiệm, chống siêu nhiên hay vô thần, hoặc thiên về thủ cựu, bài bác những thành tựu chính đáng của khoa học.

Đời Sống Đạo Đức.
Quan niệm và tình trạng đạo đức của xã hội Cô-rinh-tô thời Phao-lô thành lập hội thánh tại đây.

Cô-rinh-tô nổi tiếng về đời sống giàu sang, xa xỉ vì thế tìm kiếm giàu sang thịnh vượng là một điều bình thường. Một trong những mục đích của hàng ngàn di dân từ khắp các nơi đổ về đây là để làm giàu. Giàu sang, xa xỉ là một cách để biểu lộ thành công và để được vinh dự cho nên ai cũng muốn phô trương, chứng tỏ mình giàu có, sang trọng.

Cô-rinh-tô đã trở thành một từ ngữ chỉ về những người say sưa, trụy lạc. Ngay trên một đồi cao trong thành phố là đền thờ nữ thần Aphrodite, nữ thần tình yêu. Tại đền thờ có hàng ngàn nữ tư tế, cũng là những cô điếm hành nghề ban đêm tại các ngã đường trong thành phố Cô-rinh-tô.  
Quan niệm đạo đức của Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế do Phao-lô và các Sứ Đồ dạy dỗ.

Phao-lô gọi những người tín hữu ở Cô-rinh-tô là những người đã và đang được thánh hóa. Người tín hữu của Chúa phải có một đời sống thánh khiết theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa, đẹp lòng Chúa. Như thế người tín hữu phải tránh vấn đề tà dâm, nghĩa là có mối liên hệ tình dục không chính đáng. Nói một cách thực tế hơn, tín hữu Cô-rinh-tô không được ăn ngủ vơí những cô điếm tại đó. Tà dâm cũng bao gồm vấn đề ăn ngủ với nhau trước hôn nhân và ngoài hôn nhân. Những hành vi Phao-lô lên án gồm có: gian dâm, thờ thần tượng, ngoại tình, đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, kẻ hay chửi rủa, lường gạt…(1Cor 6:9-10) Phao-lô cũng lên án nặng nề một người phạm tội loạn luân trong hội thánh.
Những khó khăn của tín hữu và cộng đồng dân Chúa thời ấy gặp phải khi sống theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa.

Vấn đề liên hệ cá nhân: Bị xa cách; có thể bị tránh xa hay từ bỏ vì không ăn chơi; không dự các buổi cúng tế, hội hè; không ăn đồ cúng…
Vấn đề làm ăn: Khó khăn hơn vì không tham gia những buổi lễ hội thờ cúng các thần. Không quen thân với những người làm ăn lớn, các phường nghề..các quan chức.

Hiện trạng đạo đức trong hội thánh Chúa ngày nay.
Tín hữu ở những nơi đa số theo đạo Chúa tương đối dễ dàng hơn về việc thờ cúng.
Tín hữu ở những nước tự do tiên tiến bị nhiều cám dỗ về tình dục và giàu có.
Đề nghị giải pháp ứng dụng.
-Nhấn mạnh đến giá trị của đời sống tâm linh.
-Đặt ưu tiên cho đời sống tâm linh, vui mừng và bình an nội tâm hơn là đời sống vật chất.
-Khuyến khích và khen ngơị đời sống phục vụ hơn là hưỡng thụ.
-Chú trọng đến đời sống có mục đích thiêng liêng, có kết qủa đạo đức và thuộc linh.

Hôn Nhân.
Quan niệm về hôn nhân của Phao-lô.

Hôn nhân giữa nam nữ là một điều bình thường cho đại đa số con người. Tình dục trong hôn nhân là một điều tự nhiên và hợp lý, không có gì tội lỗi hay xấu xa.

Điều này trái với quan niệm ngoại đạo thời ấy, tức là vấn đề ăn ngủ với gái điếm là một vấn đề bình thường.
Phao-lô cũng chống lại các quan niệm cho rằng sống độc thân là thánh khiết hơn hôn nhân. Theo Phao-lô chỉ có một số ít người có ân tứ sống độc thân như ông. Nguyên tắc Phao-lô giảng dạy là mỗi người nên sống theo ân tứ Chúa ban cho. Về vấn đề tình dục, Phao-lô khuyên nếu một người không có ân tứ sống độc thân thì nên lập gia đình, vì hôn nhân sẽ giúp tránh được cám dỗ vì tình dục.

Theo sự dạy dỗ của Chúa Giê-su, Phao-lô cũng chủ trương không ly dị; nhưng những người góa có quyền tục huyền. Những người có gia đình và người phối ngẫu không tin Chúa khi mình tin Chúa không được bỏ người phối ngẫu vì họ không tin Chúa. 

Hiện trạng về hôn nhân trong hội thánh Chúa ngày nay.
Hội thánh có nên chấp nhận những người ly dị?
Hôn nhân của những người đã ly dị.
Hôn nhân của những người đồng tính luyến ái.

Giải pháp giải quyết.
Chúa Giê-su và Kinh Thánh Tân Cựu Ước đều dạy con dân Chúa không nên ly dị. Khi một người ly dị, người đó đã phạm tội. Vậy hội thánh nên giải quyết vấn đề ly dị như đã giải quyết những tội khác mà con người đã phạm. Tức là mục sư hay những người lãnh đạo, trưởng thành trong Chúa nên tư vấn người ly dị; cho thấy đây là một tội và cần ăn năn. Tìm đủ cách giải hòa với người phối ngẫu nếu được. Nếu một người ly dị đã ăn năn, xưng tội với Chúa và giải hòa hội thánh nên chấp nhận họ. 

Hội thánh nên xét rõ trường hợp nạn nhân ly dị, những người này bị ly dị, bị bỏ, như thế lỗi không phải do họ; cho nên chúng ta không thể trừng phạt họ mà phải an uỉ, nâng đỡ họ. Trong trường hợp họ không thể trở lại với người phối ngẫu vì người kia đã lập gia đình với người khác, hội thánh phải cho họ lập gia đình trở lại.  

Kinh Thánh không chấp nhận hôn nhân của những người đồng tính phái. Tuy nhiên hội thánh nên đối xử với họ bằng tình yêu thương thay vì lên án, nhục mạ hay khinh bỉ họ.

Ăn Đồ Cúng Thần Tượng.

Bối cảnh văn hóa và tôn giáo của thành Cô-rinh-tô.
Dân chúng tại Cô-rinh-tô là dân tứ xứ vì thế họ cũng đem tôn giáo của mình đến đây. Khảo cổ cho thấy trong thành Cô-rinh-tô có đền thờ thần y tế Asclepius, thần Athena, đền thờ hoàng đế La Mã, thần Demeter, thần Persephone. Đền thờ nữ thần Aphrodite. Các lễ hội và việc dâng các lễ vật cúng tế các thần tại các đền miếu trên là những việc bình thường tại đây.

Bản chất của việc thờ cúng thần tượng.
Những người tin ‘Vạn Vật Hữu Linh’(Animism) tin rằng các thần tượng là thật và linh thiêng nên họ mới dâng lễ vật cúng tế các thần tượng.
Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Phao-lô dạy rằng thần tượng chỉ là hư không, chỉ là những vật do tay người làm ra, không phải là thần và rằng chỉ có một Chân Thần, tức là Đức Chúa Trời; và chỉ có một vị Chủ Tể hay Chúa Tể là Chúa Giê-su. Tuy nhiên Kinh Thánh cũng xác nhận sự hiện hữu của Quỉ Vương Sa-tan, ma quỉ hay các tà linh, ác thần.

Ê-phê-sô 6:10-19  cho thấy:

  • Sa-tan là quỉ vương đứng đầu thế giới tà linh.
  • Những quỉ lãnh đạo (Đa-ni-ên 10:13  Hoàng Tử bảo vệ Ba-tư ). Quỉ tể trị một quốc gia hay một vùng.
  • Giới thẩm quyền: Tà thần (Thần thành hoàng ?)
  • Bậc quyền thế: Quỉ dữ
  • Tà linh (ma)
Quan niệm của Phao-lô cũng như Kinh Thánh về vấn đề thờ cúng thần tượng.
Một trong Mười Điều Răn của Chúa cấm việc thờ cúng thần tượng. Kinh Thánh Cựu Ước cũng đã nhắc lại nhiều lần về việc này và ghi lại những hậu qủa thảm hại do việc thờ cúng thần tượng đem lại cho dân Chúa.

Nan đề ăn đồ cúng thần tượng tại Cô-rinh-tô.
Nan đề của tín hữu Cô-rinh-tô thời ấy là họ có nên ăn thịt đã dâng cúng cho thần thánh tại các đền và được đem ra chợ bày bán, hay không?
Một số tín hữu Cô-rinh-tô cho rằng ăn uống các đồ cúng tế trong đền thờ các thần cũng không sao vì tất cả chỉ là hư không. Vì một số người cho rằng thần tượng là hư không, nên việc cúng tế các thần tượng cũng chỉ là những hành động hư không; nó không ảnh hưởng gì đến thịt hay đồ ăn đã dâng cúng tế.

Phao-lô công nhận rằng thần tượng là hư không và thịt đã dâng cúng cho thần tượng cũng không bị ảnh hưởng gì. Nhưng Phao-lô nhắc nhở tín hhữu Cô-rinh-tô đến những nguyên tắc thuộc linh khác không kém quan trọng.

Giải pháp Phao-lô dạy hội thánh Cô-rinh-tô đối với vấn đề ăn đồ cúng thần tượng.

  1. Thần tượng và đồ cúng thần tượng là hư không nhưng Sa-tan và ma quỉ nhận chúng làm công cụ của chúng và hành động qua chúng. Các đền miếu là những nơi ma quỉ chiếm ngự.
  2. Vì ma quỉ nhận các thần tượng làm công cụ của chúng nên những lễ vật cúng tế cho thần tượng là cúng tế cho ma quỉ và thuộc về chúng.
  3. Tham gia các nghi lễ thờ lạy thần tượng là tham gia vào sự tương thông với ma quỉ vì thế tín hữu của Chúa đã tham dự lễ thờ phượng và tiệc thánh, tức là tương thông vơí Chúa nên không thể tương thông với ma quỉ để bị ô uế, vì Chúa của chúng ta là Đức Chúa Trời thánh và kỵ tà. (Xuất 20:5; 1Phê-rơ 1:16)
  4. Tín hữu của Chúa là người được tự do và có thể không bị hại gì khi ăn đồ cúng thần tượng cũng như  dự những lễ hội trong các đền miếu, nhưng những hành vi này có thể gây vấp phạm cho một số tín hữu mới, chưa hiểu rõ về thần tượng. Ngoài ra vì đức tin mới mẽ, chưa vững và trưởng thành nên nhiều tín hữu mới  vẫn còn tin các thần tượng là thật. Những người này nếu bắt chước các tín hữu mạnh ăn uống đồ cúng trong đền thờ thần tượng, họ sẽ bị mặc cảm tội lỗi vì đã làm điều trái với lương tâm đã được đổi mới và chấp nhận điều răn thứ nhất (cấm thờ thần tượng). Cố ý hay bất cẩn gây vấp phạm cho những anh chị em khác trong Chúa là một  tội. (Rôm 14:19-21)
    Nguyên tắc làm gương và không gây vấp phạm cho người khác là những nguyên tắc quan trọng trong nếp sống tín hữu.

Thờ cúng ông bà, tổ tiên và giỗ, Tết của người Việt Nam.
Tác gỉa Toan Ánh viết: “Dân tộc Việt Nam rất trọng lễ, và trọng lễ thì ân nghĩa giữ phần quan trọng…Người con hiếu thảo biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, và đã hiếu với cha mẹ phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình…con cháu phải thờ cúng các người, cũng như thờ cúng tổ tiên về trước.”
 
Thờ cúng ông bà, tổ tiên cũng xuất phát từ niềm tin rằng chết không phải là hết nhưng vong linh người chết sẽ về ở âm giới. Vào những dịp giỗ, Tết hay dịp vui lớn trong gia đình như cưới, gã, thi đỗ, thăng quan v.v. Gia đình thường mời vong linh người qúa cố về chung vui, tham dự và phù hộ con cháu.

Như thế thờ cúng ông bà tổ tiên là một cách biểu lộ lòng hiếu kính đối với ông bà tổ tiên. Ngoài ra chúng ta cũng thấy người Việt Nam muốn giữ tình cảm gia đình, gia tộc bền vững dù những người thân đã ở một thế giới khác. Người Việt nam tin rằng người qúa cố có nhiều quyền năng và có thể phù hộ, ban ơn chúc phúc cho con cháu.

Đề nghị giải pháp thực tiễn hợp với Kinh Thánh.
Thờ cúng ông bà tổ tiên là một phong tục, một nghi lễ bày tỏ lòng hiếu kính đối với ông bà tổ tiên. Về nghi lễ cúng giỗ đa số người Việt chúng ta học theo cách của Khổng giáo hay Đạo giáo của người Trung Hoa. Tấm lòng hiếu kính, biết ơn ông bà, tổ tiên và ghi nhớ nguồn gốc của mình đều là những mỹ đức cao quí đáng gìn giữ, duy trì. Nhưng nhất thiết chúng ta có cần phải theo các nghi thức của người Trung Hoa theo Khổng giáo, Đạo giáo hay Phật giáo thì mới bày tỏ được lòng hiếu kính, ân nghĩa của mình với ông bà, tổ tiên chăng?

Đặc biệt đối với tín hữu Tin Lành, chúng ta tin rằng chúng ta là những người tin và thờ Trời, vị Chân Thần duy nhất trong vũ trụ. Chúng ta cũng có Kinh Thánh là Chân Lý của Đức Chúa Trời, là lời giáo huấn chân thật, tốt đẹp và cao quí nhất cho loài người làm theo. Chúa Cứu Thế của chúng ta là Đấng cứu rỗi và là tấm gương toàn hảo cho mọi người noi theo.

Một trong Mười Điều Răn trọng đại trong Kinh Thánh dạy rõ: “Phải hiếu kính cha mẹ, để các ngươi có thể sống lâu trên đất mà CHÚA, Đức Chúa Trời các ngươi ban cho.” Xuất 20:12 Như thế hiếu kính cha mẹ, ông bà, tổ tiên là điều đương nhiên tốt đẹp, cao quí chúng ta phải làm. Nhưng người tín hữu của Chúa cũng làm theo những nghi lễ hợp với niềm tin và sự dạy dỗ của Chúa và Kinh Thánh.

Kinh Thánh dạy rõ: “Như đã được ấn định, loài người phải chết một lần, sau đó phải chịu xét đoán.” Hêb 9:27
Tất cả mọi người khi qua đời đều sẽ phải ở một chỗ để chờ ngày phán xét cuối cùng. Những người tín hữu đã được tha tội, được sự sống vĩnh phúc thì được Chúa đem về cùng Ngài :

“Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã đã chết và đã sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người đã ngủ trong Đức Giê-su về cùng Ngài.” 1 Tê-sa 4:14

Như thế vong linh người qúa cố không thể trở về với gia đình, con cháu trên trần gian. Chúa Giê-su trong câu chuyện “Người giàu và La-xa-rơ” (Lu-ca 16:19-31) cũng cho biết người chết không thể trở về trần thế. 

Ngoài ra Kinh Thánh Cựu Ước dạy rõ con dân Chúa không được cúng lễ vật cho người chết:
“Tôi không ăn phần thánh lúc có tang chế, cũng không đụng đến đang khi bị ô uế, và cũng không cúng phần ấy cho người chết. Tôi đã vâng Lời Chúa, Đức Chúa Trời của tôi và thi hành mọi điều Ngài truyền dạy” (Phục 26:13-14).

Kinh Thánh dạy rõ con dân Chúa chỉ thờ lạy một mình Đức Chúa Trời duy nhất (Xuất 20: 1-3 Điều Răn Thứ Nhất); chúng ta sẽ không thờ lạy các thần khác, thiên sứ hay loài người, dù là những vĩ nhân. Kinh Thánh phân biệt rõ tôn kính và thờ lạy. Chúng ta được khuyến khích hãy tôn trọng, hiếu kính cha mẹ, ông bà và tổ tiên  nhưng chỉ thờ phượng Trời, là Đấng Tạo Hóa và nguồn gốc tối hậu của nhân loại. Kinh Thánh không cấm những nghi lễ tưởng niệm. Một điều chúng ta nên lưu ý rằng chính Chúa Giê-su đã thiết lập lễ Tiệc Thánh nhắc lại sự chết của Ngài để con dân Chúa “Hãy làm điều này để kỷ niệm Ta.” (1Côr 11:24) 

Như thế tín hữu của Chúa có thể tổ chức các nghi lễ hay bữa tiệc để tưởng niệm hay ghi ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình.

Mục đích và cách sử dụng các ân tứ Thánh Linh

Mục đích của các ân tứ Thánh Linh.
Tiên tri Giô-ên (Giô-ên 2:28-29) nói đến thời kỳ Đức Chúa Trời đổ Đức Thánh Linh xuống con dân Chúa.
Giăng Báp-tít tiên tri về Chúa Cứu Thế sẽ đến làm ứng nghiệm lời tiên tri Giô-ên. Mat 3:11
Chúa Giê-su trở về Ga-li-lê trong quyền năng của Chúa Thánh Linh (Lu-ca 4:14).
Chúa Giê-su ban quyền năng cho các Sứ Đồ và 72 môn đồ (Lu-ca 10:1-12).
Chúa Thánh Linh giáng xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần là sự ứng nghiệm của lời tiên tri Giô-ên (Công Vụ 2:16).
Chúa Giê-su hứa ban Đức Thánh Linh cho môn đệ Ngài (Công Vụ 1:4-8).
Phê-rơ công nhận biến cố Đức Thánh Linh được ban cho dân Chúa (Công Vụ 2:32-33).
Các đặc tính của hội thánh đầu tiên bắt đầu từ ngày lễ Ngũ Tuần: Truyền giáo, đuổi quỉ, chữa bệnh, tiên tri, thấy mộng, khải tượng.
Tiên tri Giô-ên cho thấy, “tất cả con dân Chúa” sẽ được nhận lãnh Đức Thánh Linh và các ân tứ Thánh Linh.
Phao-lô cho thấy: “đến nỗi anh chị em không thiếu một ân tứ nào trong khi trông đợi Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta hiện ra.” 1Côr-inh-tô 1:7 Như thế các ân tứ Đức Thánh Linh được ban cho tín hữu để xây dựng hội thánh hay thân thể Chúa Cứu Thế (Ê-phê-sô 4:12), xây dựng tín hhữu (1 Côr 14:26) ,tức là vì “mục đích chung” (1 Côr 12:7). 

Đấng ban cho các ân tứ Thánh Linh.
Tất cả các ân tứ khác nhau đều do một Đức Thánh Linh ban cho
(1Côr 12:11) tùy theo ý Ngài (1Côr 12:11).

Những ân tứ Thánh Linh trong Kinh Thánh.

Các đoạn Kinh Thánh liệt kê các ân tứ Thánh Linh:
Rô-ma 12:6-8; 1Côr 7:7; 12:8-10, 28; Ê-phê-sô 4:11; 1Phê-rơ 4:11 Một điều rõ ràng rằng Phao-lô không có ý liệt kê tất cả các ân tứ Thánh Linh nhưng chỉ nói đến các ân tứ liên hệ đến tín hữu Cô-rinh-tô.

Kinh Thánh Cựu Ước cũng nói đến một số trường hợp Chúa ban cho con dân Ngài thần của Chúa với các khả năng đặc biệt để làm một số việc. (Xuất 31:1-11).

Các ân tứ có thể có mức độ khác nhau tùy theo đức tin (Rôm 12:6). Như thế ân tứ có thể được phát triển nhiều hay ít theo sự tập luyện, sử dụng và theo thời gian. Một người có thể có ân tứ nhưng xao lãng nên không phát triển, vì thế Phao-lô khuyên mục sư trẻ Ti-mô-thê “Đừng quên, cũng đừng coi thường ân tứ con đang có.” (1Tim 4:14) và Phao-lô cũng khuyên Ti-mô-thê “khơi dậy” ân tứ ông đã nhận (2Tim 1:6). Nói chung một ân tứ có thể rất mạnh mẽ, hữu dụng nhờ ân huệ của Chúa và cũng nhờ đức tin, sự tập luyện, sử dụng của người tín hữu.

Phao-lô đã hỏi người Cô-rinh-tô (1Côr 12:29-30) cho thấy không ai có tất cả các ân tứ nhưng người được ân tứ này, người khác được ân tứ khác. Chúng ta có thể nói rằng mộ tín hữu có Đức Thánh Linh trong lòng phải có ân tứ Đức Thánh Linh.

Ân tứ Đức Thánh Linh là ân tứ vĩnh viễn trong đời sống tín hữu. Tuy nhiên có một số ân tứ chỉ thực hiện do ý chỉ của Chúa như ân tứ tiên tri, chữa bệnh v.v. thì mới được.

Ngoài ra trong trường hợp xao lãng, phạm tội, ân tứ có thể mai một. (như Sam-sôn trong C.UU và cảnh cáo về xao lãng, Ti-mô-thê). 

Cách sử dụng các ân tứ Thánh Linh trong hội thánh, trong buổi thờ phượng Chúa công cộng.
Nan đề sử dụng các ân tứ Thánh Linh trong hội thánh Cô-rinh-tô.

Giải pháp giải quyết Phao-lô đưa ra.
Hiện trạng về ân tứ Thánh Linh trong hội thánh hiện đại.
Những ưu, khuyết điểm.
Giải pháp tốt đẹp và hữu hiệu cho hội thánh và Vương Quốc Đức Chúa Trời.

Sự Phục Sinh của Tín Hữu
Sự phục sinh của tín hữu nói chung đượïc căn cứ trên sự phục sinh của Chúa Giê-su. Phao-lô qủa quyết, “Nếu Chúa Cứu Thế đã không sống lại, thì sứ điệp Phúc Âm mà chúng tôi truyền giảng thành vô  ích và đức tin anh chị em cũng vô ích.” (15:14)

Sự phục sinh của Chúa Giê-su.
Để chứng minh về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su, Phao-lô đã trưng dẫn ba nguồn bằng chứng:

  1. Phao-lô đã nhận truyền thuyết về sự chết và sống lại của Chúa Giê-su. Vào thời này, truyền thuyết trên là sứ điệp Phúc Âm và lời chứng của các Sứ Đồ. Nhhư thế chúng ta có thể duyệt qua những bằng chứng về sự chết và phục sinh của Chúa Giê-su.
    Các bằng chứng về sự phục sinh của Chúa Giê-su:

    Kinh Koran của người Hồi giáo vào thế kỷ thứ bảy Sau Công Nguyên cho rằng Chúa Giê-su đã không chết thật. Nhiều người vào thế kỷ thứ hai mươi cũng nêu lên thuyết bất tỉnh để giải thích rằng Chúa Giê-su chỉ bất tỉnh khi bị đóng đinh trên cây thập tự và sau đó nhờ không khí lạnh của hầm mộ nên tỉnh dậy và đi ra. Tuy nhiên bác sĩ và tiến sĩ khoa học Alexander Metherell M.D., Ph.D. đã xét tất cảnhững sự kiện lịch sử, y khoa, khảo cổ và luật lệ La Mã liên quan đến vấn đề tra tấn, hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập tự và nhát giáo đâm nơi hông Chúa Giê-su để chứng minh rằng: “Chúa Giê-su không thể nào xuống khỏi cây thập tự mà vẫn còn sống.”

    Sự kiện về ngôi mộ trống. Một số người hoài nghi và học giả tự do cấp tiến cho rằng xác Đức Giê-su có thể bị thú vật ăn mất chứ không phải vì Ngài sống lại và ra khỏi hầm mộ. Nhưng điều này khó giải thích cho sự kiện tất cả các sứ đồ đều làm chứng rằng Chúa Giê-su đã sống lại và sẵn sàng chịu bắt bớ, hành hạ và ngay cả chết vì sự kiện này. Một số khác cho rằng các sự kiện trong bốn sách Phúc Âm không thống nhất nên khó có thể tin cậy. Tuy nhiên xét về biến cố chính bốn sách Phúc Âm đều nói đến một sự kiện, ngôi mộ trống, chỉ khác biệt về một số chi tiết thứ yếu. Thật ra điều này chứng tỏ rằng bốn sách Phúc Âm dựa theo bốn nhân chứng độc lập và vì thế đáng tin cậy.

    Tiến sĩ William L. Craig nêu lên năm lý do xác nhận ngôi mộ trống là một sự kiện lịch sử:
    1. Ngôi mộ trống được nhắc đến trong thư Cô-rinh-tô (ch.15), một nguồn văn liệu lịch sử rất gần với cuộc đơì Chúa Giê-su và đáng tin cậy.
    2. Chỗ ngôi mộ trống là một địa điểm quen thuộc đối với tín hữu lẫn người Do Thái thời đó. Người ta có thể kiểm chứng dễ dàng ngôi mộ trống.
    3. Ngôn ngữ của Phúc Âm Mác rất đơn sơ và rõ ràng. Đây không thể là một huyền thoại được thêu dệt thêm về sau này và phải mất một thời gian lâu dài để xây dựng.
    4. Những câu chuyện huyền thoại về sau về Chúa Giê-su cho thấy nhiều chi tiết hào nhoáng. Câu chuyện của Mác rất đơn sơ, mộc mạc chứng tỏ nhân chứng chỉ ghi lại sự kiện thật.
    5. Sự kiện các phụ nữ là những nhân chứng đầu tiên chứng tỏ đây là chuyện thật; người kể hay ghi chép lại Phúc Âm không để ý và không sợ bị chê rằng họ dùng nhân chứng không đáng tin cậy vì trong xã hội thời đó đàùn bà bị coi là nhân chứng không đáng tin cậy.
    6. Giới chức Do Thái cho rằng ngôi mộ trống là điều đương nhiên; họ chỉ hỏi, điều gì đã xảy ra cho thân xác Chúa Giê-su.

  2. Các nhân chứng.
    Phao-lô trong thư Cô-rinh-tô ghi rằng Chúa Giê-su đã sống lại và hiện ra cho Phê-rơ và 12 Sứ Đồ; sau đó Ngài hiện ra cùng một lúc cho hơn 500 người mà phần lớn vẫn còn sống cho đến lúc đó. Ngài cũng hiện ra cho Gia-cơ và sau cùng Ngài hiện ra cho Phao-lô. Điều đáng nói nhất là Phao-lô cho rằng người ta có thể kiểm chứng những việc này với nhiều người còn sống.
    Phê-rơ đã công khai tuyên bố rằng ông là nhân chứng đã gặp, ăn uống và học với Chúa Giê-su phục sinh (Công Vụ 10:41). Phao-lô cũng xác nhận rằng nhiều người đã chứng kiến Chúa Giê-su phục sinh và là nhân chứng trước dân chúng. (Công 13:31). Tiến sĩ Gary Habermas cho thấy những bằng chứng trong bốn sách Phúc Âm và Công Vụ rất nhiều và phối trí với nhau. Ông cho rằng không có bộ lịch sử cổ đại nào trên thế giới có nhiều bằng chứng cụ thể và xác đáng như thế. “Mặc dù tôi đã cố gắng, tôi không thể nghĩ ra một sách lịch sử cổ nào mà có nhiều biến cố đuợc xác nhận thông suốt như thế.”

  3. Kinh Thánh.
    Phao-lô xác nhận rằng Chúa Giê-su đã chịu chết theo lời Kinh Thánh; Ngài được chôn và sống lại cũng theo lời Kinh Thánh. Phao-lô nói đến lời tiên tri trong Kinh Thánh Cựu Ước về Chúa Cứu Thế hay Đấng Mê-si-a đã được ứng nghiệm trên Chúa Giê-su. Điều này bất cứ người Do Thái nào cũng có thể kiểm chứng bằng cách đọc Kinh Thánh Cựu Ước. Ngày nay chúng ta cũng có thể đọc Kinh Thánh Cựu Ước và so với cuộc đơì của Chúa Giê-su trong Tân Ước. Trong lịch sử Do Thái không có ai mà cuộc đời đã được ứng nghiệm từng chi tiết nhỏ như Chúa Giê-su.

Sự phục sinh của Chúa Giê-su là mô hình, là trái đầu mùa của sự phục sinh cho tất cả tín hữu.
Phao-lô dùng sự phục sinh của Chúa Giê-su để chứng minh rằng con dân của Chúa cũng sẽ được sống lại vào ngày cuối cùng như Chúa Giê-su đã sống lại. Chúa Giê-su đã sống lại là một mô hình hay là trái đầu mùa của con dân Chúa trong sự sống lại vào ngày cuối cùng. Vì thế hy vọng của tín hữu của Chúa không phải chỉ có đời sống hiện tại mà cả sự phục sinh và sự sống đời đời với Chúa.

Sự phục sinh của tín hữu vào ngày cuối cùng là một động lực lớn để giúp tín hữu sống không phải cho đời sống vật chất hiện tại mà thôi, nhưng cũng sống cho đời sống vĩnh cửu nữa. Đây là lý do giúp nhiều tín hữu hăng hái, nhiệt thành phục vụ Chúa.

Chúa Giê-su Tái Lâm
Khi nói về sự sống lại của tín hữu vào ngày cuối cùng Phao-lô cũng đề cập đến sự tái lâm của Chúa Giê-su. (1Cor 15:23) Phao-lô cũng cho tín hữu Cô-rinh-tô biết một huyền nhiệm, đó là: “Không phải tất cả chúng ta đều sẽ ngủ, nhưng tất cả đều được biến hóa. Trong tích tắc, trong nháy mắt, khi tiếng kèn chót thổi. Vì kèn sẽ thổi lên, những người chết sẽ sống lại không hư nát và chúng ta sẽ được biến hóa. Vì sự hư nát này phải mặc lấy sự không hư nát và sự hay chết sẽ mặc lấy sự bất tử.” (1Cor 15:51-53).  

Tất cả tín hữu Phúc Âm Thuần Túy (Evangelical Christians) đều tin rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại (tái lâm) thế gian này bằng thân thể phục sinh của Ngài. Những người theo thần học tự do cấp tiến không tin rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại bằng thân thể phục sinh (vì họ không tin sự phục sinh của Chúa Giê-su) nhưng chỉ có thần linh của Ngài hiện diện.

Tuy nhiên giữa vòng những người tin vào sự tái lâm của Chúa Giê-su có ba trường phái khác nhau:

  1. Phi Thiên Hy Niên.(Không có một ngàn năm bình an)
    Một số người cho rằng thế giới này sẽ đến tận cùng và Chúa Giê-su sẽ trở lại thế gian này vào ngày tận thế. Sau đó là nước đơì đời. Những từ ngữ “một ngàn năm” trong Khải Huyền 20 là từ ngữ biểu tượng, chỉ về một thời gian dài, không phải nghĩa đen. Những điều xảy ra trong Khải Huyền 20 là những điều đang ứng nghiệm với hội thánh hiện nay.
    Những người theo quan niệm Phi Thiên Hy Niên cho rằng những điều Phao-lô nói đến trong 1 Côr 15 là những biến cố trong ngày tận thế.

  2. Hậu Thiên Hy Niên. (Sau một ngàn năm bình an)
    Những người chủ trương Hậu Thiên Hy Niên cho rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại thế gian sau một ngàn năm bình an. Người ta cho rằng Phúc Âm của Chúa sẽ biến đổi thế gian và xã hội sẽ ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn; nhiều người sẽ tin theo Chúa và xã hội sẽ sống dưới ảnh hưởng của Đạo Chúa. Nhờ thế nhân loại sẽ sống trong hoà bình và công chính trong một thời gian dài (một ngàn năm) cho đến khi Chúa Giê-su trở lại.

    Thư Cô-rinh-tô nhất chương 15 nói về những biến cố vào ngày tận thế.

  3. Tiền Thiên Hy Niên. (Trước một ngàn năm bình an).
    Đa số tín hữu Phúc Âm Thuần Túy tại Bắc Mỹ tin theo quan niệm này. Nói chung thuyết này cho rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại thế gian để lập nước một ngàn năm. Sau một ngàn năm bình an dưới sự cai trị của Chúa Cứu Thế, Sa-tan được thả ra và động viên thế giới vô tín  chống lại Chúa Cứu Thế nhưng chúng sẽ bị đánh bại và tận thế. Quan niệm Tiền Thiên Hy Niên cũng lại có hai thuyết:

    1. Tiền Thiên Hy Niên truyền thống hay lịch sử.
      Thuyết này cho rằng Chúa Cứu Thế trở lại thế gian chỉ
      một lần và thành lập nước một ngàn năm bình an. Ngoài ra đa số người theo thuyết này cũng tin rằng Chúa Giê-su trở lại thế gian sau cơn đại nạn. (Mat 24:21, 29-30)

    2. Tiền Thiên Hy Niên “Thời Đại Trị”(Dispensational ).
      Theo thuyết này Chúa Giê-su trở lại không những trước một ngàn năm bình an mà trước cả cơn đại nạn trước đó nữa. Ngoài ra những người theo thần học “Thời Đại Trị” giải nghĩa rằng Chúa Giê-su chỉ trở lại trên không để cất hội thánh lên trời (rapture) trong bảy năm, rồi sau đó mới cùng thánh đồ trở lại qủa đất, thành lập và trị vì trên khắp thế giới một ngàn năm.
Một đặc điểm nữa của quan niệm Thời Đại Trị là Chúa Giê-su có thể trở lại bất cứ lúc nào và sẽ bất ngờ, không ai biết trước được và cũng không có dấu hiệu gì.

Một trong những đặc điểm của thần học “Thời Đại Trị” là sự phân biệt giữa hội thánh và dân Do Thái vẫn duy trì cho đến tận thế. Trong khi đó những người theo Phi Thiên Hy Niên chủ trương rằng hội thánh là dân Do Thái thuộc linh và thay thế vai trò “Dân Chúa” của người Do Thái trong thời Tân Ước.

Những người theo Tiền Thiên Hy Niên Thời Đại Trị cho rằng 1Côr 15 và 1Tê-sa 4:16-17 nói đến biến cố Chúa Giê-su đến trên không trung để cất hội thánh (tín hữu thật) lên trời thoát khỏi cơn đại nạn trong bảy năm do kẻ Chống Chúa (Antichrist) cai trị. Tuy nhiên những người theo Tiền Thiên Hy Niên truyền thống cho rằng từ các thế kỷ đầu tiên tín hữu trong các hội thánh đã tin rằng những biến cố ở đây (1Cor 15 và 1Tê-sa 4) chỉ về một biến cố chung: Chúa Giê-su tái lâm. Và Kinh Thánh không có chỗ nào nói “hội thánh sẽ được cất đi trước cơn đại nạn.”.

Ngoài ra khi một người không phân biệt hội thánh thời nay với dân Chúa (Một khẩu hiệu thông dụng nói lên sự hiệp nhất của dân Chúa: Người ta đuợc cứu rỗi để trở nên “dân Chúa” là nhờ ân sủng “grace” chứ không phải chủng tộc “race”, thì lý luận hội thánh Chúa được cất đi không còn vững.

Nhìn chung tôi thấy quan niệm Tiền Thiên Hy Niên Lịch Sử, tức là thuyết cho rằng Chúa Cứu Thế trở lại thế gian chỉ một lần và sau cơn đại nạn là vững chắc nhất.

Tuy nhiên như đa số tín hữu tin Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời chúng ta tin rằng Chúa Giê-su chắc chắn sẽ trở lại thế gian. Đây là giáo lý lớn, căn bản chúng ta có thể đồng ý với nhau. Còn  đối với những vấn đề tiên tri và và tín lý về thời đại cuối cùng thứ yếu khác, chúng ta nên nghiên cứu và giữ cho mình điều gì mình tin và đồng thời cũng yêu thương và cởi mở đủ để chấp nhận những quan niệm khác biệt của nhiều anh chị em tín hữu Phúc Âm Thuần Túy khác.

Bố Cục
  1. Giới Thiệu (1:1-9)
    1. Tín hữu-Sứ Đồ-Hội Thánh  (1:1-3)
    2. Các Ân Phúc của Tín Hữu (1:4-9)

  2. Giải Quyết Các Vấn Đề Trong Hội Thánh (1:10-6:20)
    1. Chia rẽ (1:10-17)
    2. Phúc Âm: Sự ngu dại đối với loài người (1:18-25)
    3. Hãy Tự Hào trong Chúa (1:26-31)
    4. Sự khôn ngoan củaChúa (2:1-16)
    5. Hội thánh và mục vụ (3:1-23)
    6. Hội Thánh Cô-rinh-tô và Sứ Đồ (4:1-21)
    7. Đạo đức và pháp lý trong hội thánh (5:1-6:20)

  3. Giải Đáp Các Vấn Đề Trong Hội Thánh (7:1-16:12)
    1. Hôn nhân và gia đình (7:1-40)
    2. Đồ cúng thần tượng (8:1-10:33)
    3. Chức Sứ Đồ và Tài trợ (9:1-27)
    4. Vấn đề thờ phượng (11:2-16)
    5. Vấn đề tiệc thánh (11:17-34)
    6. Ân tứ Thánh Linh (12:1-14:40)
    7. Sự sống lại của tín hữu (15:1-58)
    8. Vấn đề từ thiện (16:1-12)

  4. Lời Khuyên Kết Thúc (16: 13-24)


Giải Nghĩa Kinh Thánh
Sách I Cô-rinh-tô

Chọn Bài

01   02   03 
04   05   06 

07   08   09 
10   11   12 

13   14   15 
16   17   18 

19   20   21 
22   23   24 

25   26   27 
28   29   30 

Bài Giải Đáp

'; ?>